Gia
phả họ tăng xã diễn quảng huyện diễn châu
Hậu
duệ tăng chính
Họ
có gia phả nước có sử. Nếu không có gia phả để ghi chép rõ, thì theo thời gian
có nhiều thất lạc, đời sau không tra cứu được.
Họ
ta là một họ lớn. Thủy tổ nguyên người bắc quốc, ở quận thiên thủy. Năm Thiên
thuận nhà Lê cụ Thủy Tổ sang nước An Nam, thừa tuyên phủ Diễn châu,
đường Đông thành, Tổng Cao Xá, xã Đào hiểm, thôn Đông hạnh. Lấy vợ lập nghiệp
sinh con cái đến nay đã 12 đời. Gia phả về trước còn nghi vấn có sai lạc, nay cứ
theo 12 đời về sau, ghi húy hiệu, phần mộ, và ngày kỵ rõ ràng để đời sau không
nhầm lẫn.
Thành
Thái năm thứ 15, Đinh mão, tháng 8 ngày rằm( hậu lục nhật?= sau 6 ngày?)
Cháu:
Tú tài Tăng Tuấn Du, phụng chỉ
Thủy
tổ: Thượng quốc Hòa tôn, quận Thiên thủy. Tăng Nhuận Tử nhất công phủ quân.
Mộ
tại hành nương xứ tây, kỵ 3 tháng 3 âm lịch
Thủy
tổ Đại nam quốc, Lê Thị Dụ nhụ nhân
Mộ
tại Nông bản xứ cồn. Gày kỵ: thất truyền
Sinh
hạ: Tăng Chính, Tăng Vượng, Tăng Huy
Cao
tổ khảo:
Tăng Chính nhất công phủ quân
Mộ
tại ả lữ xứ cồn- Môn Hiệu
Tỷ
chính thất: Hồng Thị Lành nhất(vî lµ con g¸i
trëng)
nhụ nhân
Mộ:
hộ táng tại ả Lữ xứ. Kỵ 3 tháng 7
Sinh
hạ: Tăng Môn, Tăng Nhị, Tăng Văn.
Tăng
Nhị Tăng Văn các ông vào xã Hạnh lâm lập một chi khác
Cao
tổ khảo:
Tăng Vượng nhị lang phủ quân
( Thất truyền)
Cao
tổ khảo:
Vưu thọ bá Tăng Huy tam long phủ quân( Mất chữ hán)
Tỷ
Hồng nông quận, Húy thị Khuynh, quý nương nhụ nhân( con cháu mộ không rõ)
Cao tổ khảo: Tăng Môn nhất công Tự Phúc Sinh phủ quân. Mộ tại yên suối xứ. Do có công trần quan chiêm xạ điền, có sắc chỉ.
Cao tổ khảo: Tăng Môn nhất công Tự Phúc Sinh phủ quân. Mộ tại yên suối xứ. Do có công trần quan chiêm xạ điền, có sắc chỉ.
Tỷ
chính thất Nguyễn Thị Lành nhất hiệu trì Mỹ nhụ nhân. Mộ tại cồn long xứ điều
Kỵ
ngày 15 tháng 3
(Ghi chú: Phu là người chưa có con, phụ là người đàn ông đã có con, phủ quân là người con trai đã có cháu. nhụ nhân là người phụ nữ
Tăng mạnh đường là con trưởng
Trọng đường con trai thứ 3
Tăng quý công là con một.)
Tăng mạnh đường là con trưởng
Trọng đường con trai thứ 3
Tăng quý công là con một.)
Sinh
hạ: Tăng Xá, Tăng Hưu, Tăng Thị Đề
Cao
tổ khảo:
Tăng Xá nhất công phủ quân
Mộ
tại: Cá(?) Đinh xứ điều phap tự
Cao
tổ khảo Tăng Duy Hưu nhị công, tự huyền minh phủ quân. Mộ tại Hạ Nải Xứ. Kỵ
6-10
Tỷ
chính nhất Dự chăng quan La Thị Hành nhất nhụ nhân. Mộ tại Hạ Nải Xứ.
Sinh
Hạ: Tăng ấm, Tăng Hâm thừa trưởng
Quý
nương (con gái rốt) Tăng Thị Đề chân linh.
mẹ
Tăng Môn nữ chủ thăng tức thành tổ triết vương thị nội cung tần. Chủ thăng nay xã Hạnh lâm thờ phụng. Mộ tại
Hành Nương xứ tục gọi là mả quan.
Cao
tổ khảo
: Tăng ấm nhất công phủ quân con trưởng Tăng Duy Hưu, con cháu Tăng Môn sang(?) làng khác (.... ). Không rõ tại sao con thứ là
Tăng Hâm là em lại là chính tổ. Mộ tại cồn Đông Xứ, tục gọi là cồn( .....)?
Cao
tổ khảo:
Tăng Hâm nhị công phủ quân. Con thứ Tăng Hưu, cháu Tăng Môn tự phúc Điễn, nay
là trưởng. Mộ tại xứ nông bản.
Kỵ
ngày 16-11
Cao
tổ tỷ, quận Thanh hà, Trương Thị Minh nhất nương hiện tữ nhân nhụ nhân. Mộ tại
Cồn Đông Xứ. Kỵ ngày 18-2
Sinh
hạ: 2 trai, 3 gái: Tăng Khâm, Tăng Đổng, Tăng Thị Hay, Tăng Thị Dĩnh(?), Tăng
Thị Đỹ.
Cao
tổ khảo:
Tăng Khâm nhất công, Tự Diễn Ninh, phủ quân. Con Trưởng Tăng Hâm, cháu Tăng Duy
Hưu. Mộ Tại xứ Cần Khuynh. Kỵ 17-8
Tỷ
chính thất Bái quốc quận Chu Thị Năng nhất nương, Hiệu Trì hành nhụ nhân. Mộ
tại Hàng Nương Xứ.
Sinh
hạ: 4 trai, 2 gái, Tăng Viết Thọ, Tăng Văn Hoạch, Tăng Văn Lập, Tăng Văn...(?)
Cao
tổ khảo
:Tăng Văn Tiến, Húy Đổng, Tự chân tách phủ quân, con thứ Tăng Hâm, em Tăng
Khâm, cháu Tăng Duy Hưu.
Thanh
Tịnh huyện, thổ lào xã, Sinh phạm......?.........
Tổ
cô Tăng Thị Nhưỡng(?) nhất hiệu nướng, hiệu tứ thứ(?) châm linh, Mộ tại Xứ Ngõ
bồi
Nhị
lang Tăng Văn Hoạch tự trung hòa phủ quân. Mộ tại xứ ngõ bồi. Sinh hạ một gái
Tam
lang Tăng Văn Lập, tự trung chính phủ quân. Mộ tại hàng nương xứ
Quý
lang Tăng Văn Niên, tự thuần tâm, phủ quân có con cháu thờ phụng.
Quý
nương Tăng Thị Bào chân linh. Mộ tại xứ thượng cục có con gái , nhập cư nam
đường huyện, xã Đại đồng.
Cao
tổ khảo:
Tiền sinh dô, Tế trà(?) sinh đường Tăng Quý Công, Húy thọ tự Diễn đạo, hiệu
Huyền Thống tiên sinh. Con Trưởng Tăng Khâm, Mộ tại xứ
Hương
ái. kỵ 4-7
Tỷ
chư thất: Quận Nam Dương, Hứa Thị Phàn nhất nương, Hiệu trí Tâm nhụ nhân vô
sanh đỗ Tăng Viết Thọ. Mộ tại xứ kim khôi. kỵ 15-11
Sinh
hạ 8 gái. Trưởng nữ Tăng Thị Thiết, có con là Tăng Lửa Bản thờ phụng. Kỵ Tăng
Thị Thiết: 25-4
Cao
tổ khảo: Tăng
Viết Hậu, nhất lang tự phúc thiện phủ quân pháp tự. Kỵ 28-8
Cao
tổ khảo:
Tăng Viết Duệ nhị lang, tự khánh thụy, phúc trí phủ quân.
Chưa
rõ (Hà Linh Tử)? Ngờ ông là con của Tăng Văn Niên. kỵ 13-12
Tỷ
chính thất Lại Thị Đê, nhất nương nhụ nhân.
Con
chá Tăng Viết sắc thờ phụng. Kỵ 29-11.
Sinh
hạ: Tăng Thị Hão, Tăng Văn Hành. Hiệu viết lòng. Tự Trung trực. Tăng Thị Hiếu.
Trưởng nam đã sinh Tăng Văn Nguyên.
Cao
tổ khảo:
Tiền sinh đồ, tế trá(?) sinh đường. Tăng Quý Công, Húy Miêu, Tự Văn Nguyên, con
trưởng của Tăng Viết Duệ. Mộ xứ Nông Bản. kỵ 7-4
Tỷ
chính thất: quận thái nguyên Vũ Thị Hồng nhất nương. Hiệu Từ Tín nhụ nhân. Mộ
tại xứ Nông Bản.
Sinh
hạ, sinh đồ Tăng Tuấn Ngạn, sinhđò lăng... Tăng Thúy, Tăng Thị Hiển, Tăng Thị
Trúc.
Cao
tổ khảo:
Tước kiêm tư các hợp binh phiên chảnh đội trưởng, Trạc thành lầu, Tăng Quý
Công, húy nghĩa tự, tuấn ngạn, húy đạt đức phủ quân. Mộ tại đông phái cồn
ao(?). kỵ 12-2(?)
Tỷ
chính thất, quận thiên thủy, vương thị hành nhất húy Đội, hiệu từ thuận nhụ
nhân. Mộ tại xứ phát đạng(?). kỵ 22-10
Sinh
hạ: Tăng Thị Nhiễm, không có con. Mô tại xứ hàng nương. Tăng Tá không có con.
Mộ tại xứ kim khôi
Cao
tổ khảo:
Tiền sinh đờ Kiêm tràm trưởng, Tăng quý công, Húy, ân, tự Tuấn Tài tiên sinh.
Mộ tại xứ hàng nương. kỵ 23-12. Ông là con sinh đồ Tăng Văn Nguyên, em sinh đồ
Tăng Văn Ngạn, lấy hai vợ. Sinh hạ : Sinh đỡ: Tăng Tuấn Anh, con gái Tăng Thị
Chẩn.
Tam
lang Tăng quý công. tự hà luân đức phủ quân. pháp tự. Mộ tại xứ tiểu ngọ. Kỵ
ngày1 tháng giêng.
Tứ
lang Tăng quý công, húy thùy phủ quân. Mộ tại xứ phát đạng, sinh một con gái:
Tăng Thị Đổ, kỵ ngày 30-11.
Tổ
cô: Tăng Thị Hiển chân linh
Quý(rốt)
nương Tăng Thị Trúc hiệu Từ Thiện nhũ nhân. có con cháu
Cao
tổ khảo:
Tiễn sinh đồ Tăng quý công tự Tuấn Anh tiên sinh ( Trở lên trên ghi có thất
lạc)
Cao
tổ khảo:
Tăng Lại Nhất Công, tự lạc đạo phủ quân mộ tại xứ mồ nê. Hiệu Cồn Lâm(?) quý
đông
Tỷ
thất: Vinh Dương Quận nhụ nhân. mộ tại Cồn Nê Xứ, hiệu Cồn Lâm(?).
Sinh
hạ 3 trai Trưởng: Tăng Lổi(...). Thứ Tăng Yến, Thứ Tăng Bình.
Cao
tổ khảo:
Tăng nhất lang, húy lổi, tự Đôn Tích, phủ quân. con trưởng Tăng Lại. Mộ tại
thượng cục xứ. Kỵ 22-6.
Tỷ
chính thất: Bột hải quận, Cao Thị ái nhất nương nhụ nhân. Mộ tại Nông bản xứ
Sinh
hạ 2 trai: Tăng Bá Giám, Tăng Duy Bát
Trang
21: Cao tổ khảo: Tăng Nhộ Lang, Húy Yến, tự: chính đức phủ quân. con thứ Tăng
Lại.
Tỷ
chính thất Nguyễn Thị Đồng nhất nương nhụ nhân ông bà trước nhập xã Hạnh Lâm,
ngõ Đống Yến lập một chi riêng.
Cao
tổ khảo: Tăng
Tam Lang, Húy: Bình, tự: Phúc yên phủ quân. con rốt Tăng Lại.
Sinh
hạ: Tăng Thị Linh, Tăng khắc Minh, Tăng Thị Yên. tỷ tổ
thất truyền.
Cao
tổ khảo:
Tăng Nhất Lang, Húy: Bá, Tự H Đức phủ quân.
con trưởng Tăng Lỗi, cháu Tăng Lại. Mộ tại xứ Quán Bài. Kỵ 27-7.
Tỷ
chính thất: Hồng Nông Quận, Đàm Thị Khuynh quý nương nhụ nhân. Mộ tại Thương
cục xứ. Kỵ 14-10
Sinh
hạ: 3 trai Tăng Khắc Khoan, Tăng Khắc
Nhượng.
Cao
tổ khảo: Tăng Nhị Lang. Húy: Duy Bát phủ quân., con của Tăng Lỗi, cháu Tăng
Lại.
Cao
tổ khảo
: Tăng Thọ Nhan, tự chính đức phủ quân
Tỷ
chính thất, quận Cao Dương , Hứa Thị Lành nhất
hiệu tứ sinh nhụ nhân.
Sinh
hạ 2 trai, 1 gái: Tăng Thọ Sơn, Tăng Thọ Kỳ, Tăng Thị Sum.
Cao
tổ khảo:
Tăng nhất lang, Húy: Khắc Khoan, Tự : Trinh tiết phủ quân. con trai Tăng
Bá.........cháu Tăng Lổi. Mộ tại nông bản xứ.
Tỷ
nhất cao dương quận, Hứa Thị Dậu nhụ nhân. Một tại ả La Xứ
Sinh
hạ: Tăng thuật, Húy: Quảng đến xá Lý Trà(?) lập một chi riêng.
Bản
phủ hiệu sinh, Tăng Khắc Tiến thừa trưởng. Con trai là Tăng Khắc Tuân.
Cao
tổ khảo:
Tăng nhị lang, Húy: Khắc Nhân, Tự: phúc sinh phủ quân. con Tăng Bá.... cháu
Tăng Lổi.
Tỷ
chính Thất: Phạm Thị Hệ nhụ nhân.
Sinh
hạ Tăng Đức, Tăng Lộc.
Cao
tổ khảo:
Tăng tam lang, Húy: Khắc Nhượng, Tự Lạc Thiện phủ quân. con rốt Tăng Bá.....,
cháu Tăng Lổi.
Tỷ
chính thất: Phạm Thị Quý nhũ nhân.
Sanh
hạ: 2 trai một gái. Tăng Khắc Thành, Tăng Thị Tín, Tăng Khắc Tuấn.
Cao
tổ khảo Tăng thọ sơn, Tự: tín đạo phủ quân con trưởng Tăng Thọ Nhân.
Tỷ
chính thất: Trần lựu quân, Nguyễn Thị Liêm,
Hiệu: Thục Dung nhụ nhân.
Cao
tổ khảo:
Tăng Nhị Lang, Húy : Thọ kỳ, Tự nhân kỳ phủ quân. con thứ Tăng Thọ Nhân.
Tỷ
chính thất: Quận thanh hà, Trương Thị Bồng nhụ nhân
Sinh
hạ thất truyền
Tăng Công Phụ Nhất lang – Tăng Khoa nhị lang
Tăng Khế quý(rôt) lang -
Tăng Văn tự thiện chỉnh
Tăng Cầu tự thiên đức - Tăng Tâm, tự đạo yên
Tăng Ngự(?), Tự an đạo – Tăng Tế, tự vạn phúc
Tăng Hành, Tự chính pháp -
Tăng Tuyển tự nhân tâm
Tăng Đạt, tự phúc sanh
- Tăng Thị Diệm, hiệu trinh mỹ
Tăng Tiêu, tự bản đức - Tăng Tại, tự tín thiện
Các người trên hoặc đạp tự, hoặc đi nơi khác xa nên thất truyền
..........hầu,
Tăng quý công, Húy : Tiến, tự: Khắc tín tiên sinh con tăng khoan cháu tăng
bá....
..........hiệu
trì úy(?) nhụ nhân.
Sinh
hạ: 2 trai 3 gái Tăng Thuật, Tăng Hón, Tăng Cấp, Tăng Thị Hạnh, Tăng Thị Thái,
Tăng Thị Đô.
..................Sinh
hạ 1 trai. Tăng Phúc, Tăng Thị..
|
.............Đô(tổ
cô) đã gả về xã Hạnh Lâm, chu
..............viết
quý
..............quý
công Húy phúc, Thụy đoan cẩn phủ quân.
..............con
Tăng Cấp, cháu Tăng Khắc Tiến. Mộ tại Hành Nương trang đoạn quy tây.
............Thiện
nhụ nhân. Mộ tại lung vĩ, hiệu
............ngoại
khê.
...........sinh
hạ 4 trai, 1 gái: Tăng du ( mất sớm), Tăng
...........Trên(mất
sớm), Thị Tuyển mất sớm, Tăng phì, Tăng Môn
...................đội,
Tăng Nhất công, Húy: Phì hiệu nguyên
.................hạch
phủ quân. con Tăng Phúc, cháu Tăng
.................Cấp.
Mộ tại xứ Vĩnh Trai
................Húy
đốc, hiệu Từ Huệ nhụ nhân. Mộ Tại
..............Tây
hỏa kiều.
Sinh
hạ: 1 trai, 1 gái Tăng Tuấn, Tăng Thị Tương.
Chi
trưởng chia ra từ đây.
Tăng
Tuấn sinh hạ Tăng Dy, Tăng Bạt, Tăng Hạc, Tăng Trực, Trịnh, Tăng Thị Hảo.
Tăng
Dy sinh hạ: Tăng Tiến, Tăng Thiềm, Tăng Lương, Tăng quản.
Tăng
Bạt sinh hạ: Tăng Lặc(?), Tăng Thị My, Tăng Trị, Tăng trọng cách.
Tăng
Tiến sinh hạ: Tăng Táo, 2 gái đều có con cháu
Tăng
Thiềm sinh hạ: Tăng trì lập tự. 1 con gái có con
Tăng
Vương sinh hạ: Tăng bảng, Tăng Mùi
Tăng
Bảng sinh hạ: Tăng Văn Hựu, 1 con gái
Tăng
Mùi sinh hạ: Tăng Dậu, Tăng lựu
Tăng
Hữu sinh hạ: Tăng ngự
Hiện
nay Tăng Văn Hữu là tộc trưởng
Cao
tổ khảo:
Tiễn câu đương Trùm trưởng Tăng quý công. Húy Miêu, tự hiển uyên phủ quân. con
thứ Tăng phúc, em Tăng phì, cháu Tăng Cấp. Mộ tại xứ Nông Bản nay gọi là mả
quan, kỵ 21-10
Tỷ
chính thất Vũ Thị hành nhất, Húy Năm, Hiệu từ ái nhụ nhân. Mộ tại thượng cục
xứ. Kỵ 21-11.
Sinh
hạ: 6 con trai 3 gái. Tăng Toái tự Mưu, Tăng Tu, Tăng Sàm, Tăng Viện, Tăng Tào,
Thị Tứ, Thị Tả.
Tăng
Hữu Mưu sinh ra: Tăng vệ, Tăng uy,tăng chiều, Tăng Sính, Tăng Khanh, Tăng Phụ.
Tăng
Vệ sinh hạ Tăng Đức, Tăng Tích, Tăng Hiếu, Tăng UY.
Tăng
Lao, Tăng Trung, Tăng Chỉnh.
Tăng
sính sinh hạ: Tăng Hiền, Tăng Hinh, Tăng Hoành,
Tăng
Khanh sinh hạ: Tăng Hiến, Tăng Hoạt, Tăng Hữu Miêu và 4 gái.
Tăng
Phụ Sinh hạ: Tăng giám, Tăng ấn, Tăng thị í
Tăng
Đức sinh hạ Tăng Doãn, Tăng Dân, Tăng Nhuận, Tăng Vân, Tăng Tân, 2 con gái đều
có cháu.
Tăng
Tích sinh hạ: Tăng Bá Hưởng, Tăng Ngạn, Tăng Diễn, Tăng Triển.Tăng Luyện(?)
Tăng
Uy sinh hạ: Tăng Hộ, Tăng Bảo, Tăng Hựu, các con gái có cháu.
Tăng
Lao sinh hạ: Tăng ỷ(vô hậu) Tăng Đảng, Tăng Chương(vô hậu)
Tăng
Chỉnh sinh hạ: Tăng Biển, Tăng Tuyển, Tăng ý ( đều lạp tự)
Tăng
Hiền sinh 1 gái Thị Luân(?)
Tăng
Hành Sinh hạ: Tăng Văn Đàm.
Tăng
Hoành sinh: Tăng trền, Tăng Huấn (vô hậu)
Tăng
Hiến sinh: Tăng Chương, tăng Trân, con gái có con cháu.
Tăng
Miêu Sinh: tăng Duyệt, Tăng Hệ, con gái có con cháu.
Tăng
Lam Sinh: Tăng Ân, Tăng ái (đều đạp tự)
Tăng
ất sinh: Tăng Danh(?)
Chi
tả khê Tăng sám(?) sinh: Tăng Kiều, tăng Nghiêm.
Tăng
Kiều Sinh: Tăng Viết Cung. Tăng Kính.
Tăng
Nghiêm sinh: Tăng Hoán, Tăng Triều, Tăng Thanh.
Tăng
Viết Cung sinh: Tăng Vựng
Tăng
Kính Sinh: Tăng Thăng.
Tăng
Hoán sinh: Tăng Đảng(vô hậu)
Tăng
Tữu sinh: Tăng Mỹ(vô Hậu), Tăng Xuy(), Tăng Cửu Sinh, Tăng Đình, Tăng Vựng sinh
Thị Hiên
Tăng
Thanh sinh Tăng Năng, Tăng Ninh(Sinh Tăng Nam ).
Tăng
Viện Sinh Tăng Hán, Tăng Thẩm.
Tăng
Tào sinh: Thị Bảy, gả về họ Nguyễn. Tăng Thị Dâu gả về họ mã. Tăng Thị Tá gả về
họ Đặng.
Cao
tổ khảo
tiến thể hợp, Tăng Quý công, Húy: Tu, Tự: Sỹ phòng, Thụy: chất trực phủ quân. con
Tăng Miêu em Tăng Hữu Mưu, cháu Tăng Phúc, cháu Tăng Tôn, Tăng Cấp.
ông
không biết chữ lấy nghề nông làm gốc, gia phả giàu có. Mộ tại nông bản xứ trước
thánh miếu. Kỵ 10-5
Cao
tổ tỷ chính thất: chu thị hành nhất, Húy: Thuyết, hiệu từ ái nhụ nhân. Mộ tại
khe ông tang kỵ 1-4.
Sinh
hạ:
4 trai, 4 gái. Tăng Nhiễm bị đậu mùa mất 6-7. Tăng Đặng( vô hậu) kỵ 17-4. Sinh
Tăng Vượng, Tăng Thế, Tăng Sự( đều đạp trị). Tăng Quyển. Tăng Lộc việc kinh mất
tại mâu sở chiên, cất tại hành nương tây. kỵ 17-3.
Tăng
yến, kỵ 15-3 Thị Hạnh gả về xã Hạnh Lâm họ Hứa, Thị Cầu gả về thôn Hạnh, Thị
Ngõa gả về thôn Hạnh. Thị Trương, Thị Viên(vô hậu).
Cao
tổ khảo
tiền lão nhiêu khiêm trùm trưởng Tăng quý công, Húy Quyển, Thụy: Chất thiện phủ
quân. con thứ 3 Tăng Tu, Cháu Tăng Hiểu uyên.
Tính
ông chất phát lúc tre đi lính, già về làm trùm trưởng sau lấy nghề chèo thuyền
làm vui ngoài 70 tuổi vợ của con thứ 8 với năng không có tình nhân đó giận mà
tự vẫn. Mộ tại cồn đà, nguyễn cầu điều. Kỵ 8-3.
Cao
tỏ tỉ chính thất: họ Lê, Húy: Doanh, Hiệu tí ái nhụ nhân. Bà là người họ Lê,
Cồn Đống, lê công sinh ra 2 gái trưởng gả thôn Hạnh, họ Trần. Bà là con
thứ....... Mất khi ngoài 80 tuổi. Mộ tại cồn trai(tề). Kỵ 26
Sinh
hạ: 9 trai, 2 gái.
đều
Tăng Thị Thanh mất sớm kỵ 5-3, thứ 2: Tăng đỏ, kỵ 5-12, thứ 3 Tăng Đàm vợ Phạm
Thị Thích, Cồn Đống.
Sinh
hạ được 4 trai sau đi làm thất lạc không biết nhi mất. Thứ 4: Tăng đỏ. Thứ 5
Tăng Đoạt(?). vợ Hoàng Thị Ngạn, người tả khê, sinh 3 trai 4 gái. Nay là chi
trưởng.
Thứ
6: Tăng Sậu mùa xuân đi chơi bị tai nạn chết, kỵ 9-1.
Thứ
7: Tăng Đoàn, tổ nhà ....ta. thứ 8 Tăng Chim, Vợ Cao Thị Trợ, Cồn Đống Sinh 3
trai, 3 gái.
Thứ
9 Thị Doãn, chồng là vũ chiến người cùng thôn, bị chồng đánh chết. Mộ tại quán
dần. Kỵ 28-2.
Thứ
10 Tăng Quyền ngoài 30 tuổi chưa vợ, đã chết. Mộ tại quán dần xứ. Kỵ 24-10.
Thứ
11: Tăng Kiều 20 tuổi bị bệnh chết, mộ tại quán dần, kỵ 23-5.
Hiển
tổ khảo: Tiền phong Doanh phấn võ về ngũ đợi ngũ tường Tăng quý công húy Đoàn,
thụy cương trực phủ quân. con Tăng Quyển, cháu Tăng Tu, Cháu Tăng tôn Hữu Uyên.
ông
thích hiếu học lúc trẻ lúc tre đi lính
sau anh em /hy?sơ về làm nghề buôn bán, nói không sợ húy, lòng chuộng nhân từ.
Lấy khoa bảng trông(?) ở con. Tự Đức thứ 3 năm canh tuất, con thứ là Tăng Văn
Khác...bệnh đậu.. hình thần tiều tụy phiền muộn không nản, đến 15-4 phát đá bại
chứng(khước?) đứng ngồi không yên Phóng tử khắc ruột (Buông con mà chết). Kỵ
16-4
Hiển
tổ tỉ chính thất, Lương Thị Hành Tam, Húy: Mại hiền từ thục nhụ nhân.
Bà
là người Hạnh Lâm, gia thôn con Thú Khoán Lương Huy Trung, Chị Tú Tài Lương Huy
Thọ. Tính Hiền Lành, Thông Minh năm gần 8 tuổi, năm kỷ mão, đời tự đức, ngày
18-12 mất.
Hiển
khảo tiền khoa viên, phụ lịch khoa trung nhất nhị trường chỉ, thụ bản thân trùm
trưởng, tê trung họ khoa Tăng quý công, tự phát huân?.. thụy cẩn tíu tiên sinh
phủ quân. con Tăng Đàm cháu Tăng Đình Quyển. Mộ tại trung Hậu xứ bến đao. Mỹ tử
Tăng Đình Dương tháng 2 năm tân hợi, cải tại hà....?bản.
Cha
ta sinh năm thứ 9 đời minh mệnh, năm mậu tý, người đôn hậu thật thà, cần kiệm
trung thực. Yêu mến chủ nghĩa, tay không rời sáchđều xem viết, đều thông thuộc,
chuyên nghề dạy học(thụ đồ), học trò có 2 người trúng ất bảng. thụ chú trùm
trưởng. Cuối đời rộng xem địa đạo( địa lý?). chưa trúng cùng người tranh dành
đệ thua, được người tôn tín. Đến năm thành thái tứ niên, nhâm thìn bị bệnh,
chạy chữa không khỏi giờ sửu ngày 25 tháng 10 mất, thọ 65 tuổi.
Hiển
tỷ chính nhất Phan Thị Hành Tam, Hiệu trinh tiết. Mẹ ta sinh năm thứ 15 đời
minh mệnh năm giáp ngọ, là người siêng năng, tứ lự, về nhà ta, bạch thủ thành
gia, tính cương trực không chịu khuất phục ai. Đến năm đầu đời duy tân năm đinh
mùi ngày 29 tháng 8 ngã bệnh, đến giờ
ngọ ngày 18 tháng 12 mất, hưởng thọ 74 tuổi. Mộ tại hành nương tây. Năm thứ 8
đời khải địnhcải táng thị Đồng nang xứ, bàng cồn, Hướng ất hợi.
Hiển
tổ sinh ra 2 trai, 2 gái
Hiển
khảo mỹ tự Tăng Đình Dương
Thứ
2 Tăng Thị Viêm, sinh Chu Thị Bảo, Danh hữu nhân năm đói theo con tri tên hựu
đến phủ tương dương, bị bệnh chết không biết ngày kỵ, tên Bảo cũng chết đường.
Thứ
3: Tăng Thị Vân bị bệnh chẩn đậu chết. kỵ 18-7
Mộ
tạ đồng nang xứ cồn quy tây bắc.
Thứ
4 Tăng Văn khác, tính thông minh, học đã cụ thể năm thứ 3 Tự Đức, hu năm canh
tuất, phát bệnh đậu nên ngày 28 chết mới 17 tuổi. Mộ tại đồng nang xứ cồn quy
tây nam. Kỵ 28 tháng giêng.
Hiển
khảo sinh hạ 2 trai 4 gái.
Tăng
Thị Lan, chồng Đặng Mã Phong, thôn Hạnh, sinh trai là Đặng Mã Vương, Đặng Mã
Thông, 2 trai, 3 gái.
Tú
tài Tăng Tuấn Du.
Tăng
Thị Trác(..... )gả về thọ hậu, Phan Văn Sỹ, sinh trai gái đông đúc.
Tăng
Thị Ước gả người Hạnh thôn, là bát phẩm đội trưởng Hoàng Cương , sinh con trai,
gái nhiều.
Tăng
Thị Ước bị bệnh chết. Mộ tại đồng nang, cồn quy đông bắc. kỵ 6-3.
Tăng
Văn Câu bị bệnh chẩn đậu chết. Kỵ 13-3. Mộ tại đồng nang xứ cồn quy đông nam.
Hiển
Tổ Khảo:
Đậu tú tài khoa canh tý, sang chánh hương hội, là tiên chỉ, thọ 77 tuổi, Tăng
quý công, Mạnh danh: Tuấn trinh. Tụ hy chu, thụy trực lượng, hiệu nặc(...) Đoàn
tiên sinh phủ quân.
Cha
ta sinh năm tự đức thứ 10, đinh tỵ mồng một tháng chín. Thiếu thời văn học nổi
tiếng nhưng trời hung chiếu mãi đến khoa canh tý mới đậu tú tài. Bảo Đại năm
thứ 8 tháng năm quý dậu sức lực ngày càng suy yếu giờ dậu ngày 6 tháng 5 nhuần
thì mất
Hiển
tổ tỷ Tăng quý đồng chỉnh thất, Nguyễn Thị Lành Như, Húy trung, Hiệu Đoan
thứ(?) nhụ nhân. Mộ quán đầu. Kỵ 14-5.
Bà
là người chất thực đoan tịnh, chưa từng cùng ai nặng lời. Năm đầu Thành Thái,
kỷ sửu bị bệnh sản, trải 4 , 5 tháng thì mất. Bà người bắc ninh, Tổng phù lưu,
con ông nguyễn công tự: Cai Cỗu. Mẹ là Tôn Thị Ký ở thôn hữu lộc, sinh hạ
nguyễn văn tài, nguyễn văn giao, nguyễn văn ước, nguyễn thị vẻ ( gả cho ngô
trần thị) Nguyễn thị Hiếu ( gả cho họ Đậu) Bà là con thứ sáu.
Sinh
hạ 3 trai: Trưởng Tăng Tuấn Hạnh, thứ là Tăng Tuấn Vinh, tính minh đạt, 6 tuổi
ngộ bệnh mất. Mộ tại đồng nang cồn, Nhân chạy loạn ở hương sơn, xã thanh lưu,
sinh bệnh(?)(khuynh) rồi mất táng tại cồn y xã.
.................................(mất
2 tờ)................................
................................................................................
Bá
tổ Tăng Phấn sinh hạ 3 trai, 5 gái
Tăng
Thị Phượng, gả cho Hứa cán cùng thôn. Nay còn con gái.
Hứa
Thị Thụy, gả cho Vũ Toái.
Tăng
giảm sinh ra Tăng sánh, Tăng sánh có nhiều con là chi trưởng.
Tăng
Ngoạn sinh Tăng Tưởng, 2 gái, Tăng Tưởng sinh 2 trai, 1 gái.
Tăng
Thị Luận, gả về thôn Hạnh, Đặng Lấn đông con.
Tăng
Thị Cân gả cho Chu Vượng, thôn hậu 1 con gái.
Tăng
Thị Thiều, gả Vũ Nhân cùng thôn, sinh vũ nhung.
Tăng
Văn Thận mất sớm, kỵ ngày 26-8.
Tăng
Thị Cữ, gả cho Vũ Đạo, cùng thôn, sinh vũ tam, vũ quán.
Bá
tổ: Tăng Đàn, vợ phạm thị thích, cồn đống, sinh hạ Tăng Chinh, Tăng Xá, Tăng
Nhân, Tăng Nhan. 4 con trai sau sang quỳ châu, Bị thất lạc, không biết phần mộ
ngày kỵ.
Con
trưởng là Tăng Chinh, Lấy Tăng Thị Liên cùng thôn, sinh ra Tăng Huynh, mất lúc
18 tuổi. Thứ là Tăng Xá không biết ở đâu. Tăng Nhân lấy Thị Danh, người phủ
Hậu,sinh 1 gái.
Tăng
Nhân cũng sang quỳ châu rồi chết. Tăng Nhân mất năm 22 tuổi.
Bá
thúc tổ(chú), Tăng Chim lấy Cao Thị Trợ, gả cồn đống thôn hậu. Sinh hạ Tăng
quyên. Tăng Thị(?), Tăng Thị Kỷ gả về hà cát. Tăng Công, Tăng Tương, Tăng Thị
Vuồng, Tăng Thủy đều vô hậu. Tăng Quyên sinh Tăng An và 1 gái, Tăng An sinh 1
con gái.
Văn
Tế Tiên Tổ
Cao
tổ khảo: Tiền thủ hợp Tăng quý công tự sỹ phòng, Húy Tu, Thụy: Chất trực phủ
quân.
Cao
tổ tỷ: Hiển thủ hợp Tăng chính thất, Chu Thị Hành Nhất,
Húy:
thoát, hiệu từ ái nhụ nhân, vị tiền.
Năm
tháng trôi đi ngày húy lạ đến. Nhớ về tổ Đức xuất bao thương nhớ. Cẩn cụ. Kính
phụng.
Tăng
tổ khảo tiền lão nhân kiêm trùm trưởng, Tăng quý công, Húy Quyền thụy: chất
thận phủ quân.
Tằng
tổ tỷ, tiền lão nhiên kiêm trùm trưởng, Tăng chính thất, Lê Thị Doanh, Hiệu từ
thu nhũ nhân.
Tằng
tổ bá Tăng nhữu chi linh
Tằng
tổ bá Tăng đặng chi linh
Tằng
tổ thúc Tăng lộc chi linh
Tằng
tổ thúc Tăng yến chi linh
Tằng
tổ cô Tăng Thị Viên chi linh
Tăng
Văn Vượng vong hồn ( con Tăng Đặng)
Tăng
văn Thế vong hồn ( Con Tăng Đặng)
Tăng
Văn Sự vong hồn ( Con Tăng Đặng)
Hiển
tổ khảo: tín lý trung chức dịch, tăng ngũ lang, Húy Đoạt(?) thụy: Cương trực
phủ quân.
Hiển
tổ tỷ điều lý trung chức dịch Tăng chính thất: Hoàng Thị Ngạn, nhụ nhân.
Hiển
tổ khảo tiễn phấn vệ ngũ, đội ngũ đội
trưởng Tăng quý công Húy Đoàn, Thụy Cương trực phủ quân.
Hiển
tổ tỷ tiền phấn vũ vệ ngũ đội trưởng, Tăng chính thất: lương thi hành tam, hiệu
từ thục nhụ nhân.
Hiển
tổ khảo: tiền bản thôn chức dịch, tăng bất lang, húy chim phủ quân.
Hiển
tổ cô: Tăng thị Thạch vong hồn
Hiển
tổ bá: Tăng Văn Đỏ vong hồn
Hiển
tổ bá: Tăng văn Đài chi linh và tỷ Phạm Thị Thích nhụ nhân.
Hiển
tổ thúc: Tăng Văn Sậu Chi linh
Hiển
tổ cô: Tăng Thị Doãn chi linh
Hiển
tổ thúc: Tăng Văn Quyền vong hồn
Hiển
tổ thúc: Tăng văn Hiền vong hồn
Hiển
khảo: Tiền lý trung từ đường, Tăng Nhất Lang, Húy Dản, thụy phúc trực phủ quân.
.................
Tăng Nhị Lang, húy ngoạn, Thụy cương phác
Phủ
quân. tỷ chính thất Hứa thị nhụ nhân.
Hiển
tổ khảo: Tiền khoa viên văn lịch khoa, trúng nhất, nhị tường chỉ thụ, bản thôn
trùm trưởng, tệ trung thọ khoa, tăng quý công, tự phát huân, thủy cẩn tín tiên
sinh phủ quân.
Hiển
tỷ: Tiền.... Tăng quý công chính thất: Phan Thị Hành Tam, Hiệu trinh tiết nhụ
nhân.
Hiển
khảo: Tiền bản thôn vị đường, Tăng nhất lang, húy quyên phủ quân. cậy tỷ nhũ
nhân.
Tăng
chinh chi linh- Tăng xá chi linh. Tăng nhân chi linh
Tăng
nhan chi linh, Tăng Văn Thận Chi linh, Tăng Thị Linh Chi linh, Tăng văn Khác
chi linh. Hiển tỷ Tiền hoàng triều canh tý khoa tú tài Tăng quý dương
chính
thất, Nguyễn Thị Hành Nhất Nhị, Húy:trung, Hiệu: Đoan thứ(?) nhụ nhân.
Tăng
tuấn vinh chi linh- Tăng Văn Câu vong hồn.....
Tăng
thị đỏ vong hồn. tăng văn câu vong hồn(?). và đồng thượng chư đường hạ, bá
thúc, huynh đệ, tảo sinh, tảo lạc đẳng hương hồn.
(
Tang 4 chữ hán có bài mở đầu không như bài ở trang 29 chữ hán)
Tiếp
trang 3 chữ hán có danh hiệu thủy tổ và thủy tổ tỷ như trang 28 chữ hán)
Bản
Kê Ngày giỗ bên nội bên ngoại
Tháng
1: ngày 28: thân thúc: Tăng văn khác
Táng
2:
Tháng
3: Mồng một Tăng Tuấn Vinh, Mồng 6 Tăng Thị Tước.
Mồng
8: Tăng tổ khảo. ngày 12 Tăng văn cần.
Tháng
4 ngày 16m Hiển tổ khảo, mồng 1: Cao Tổ Tỷ
Ngày
28 : Trưởng chi Tăng Ngoạn.
Tháng
5: Mồng 10 Cao Tổ Khảo 14: Hiển tỷ chính
thất
Tháng
6: Mồng 10: Trưởng Đằng Hiển Khảo Tăng Giản
Tháng
7 : Ngày 18 Tăng Thị Vân.
Tháng
8 Mồng 6: Bá Đằng hiển tổ tỷ: Hoàng Thị Ngạn
Mồng
4: Trưởng tộc ngoại Bà
Mồng
6: Vương tiên sinh kỵ
Tháng
9:
Tháng
10: 24 Hiển khảo. 18 mẹ vợ Hữu Lộc.
14 Trưởng tộc
ngoại ông
Tháng
11: Mồng 1 ngoại ông thổ hậu
Tháng
12: 18 hiển tổ tỷ- mồng 2 Bá đường Tăng Đạnh(?)
26:
tăng tổ tỷ. Ngày 16 ngoại bà thổ hậu
18:
Hiển tỷ.
...............Mất...............................................
(Trang 1 chữ Hán- Trang cuối cùng)
Hiển tổ tỷ tiên hoàng triều canh tý khoa, Tú
tài tăng quý đường, kế thất nguyễn thị hành nhất, Húy khương, Hiệu......Đàm nhụ
nhân
Mộ
Tại cồn mỹ xứ đần kỵ 3-6.
Hiển
tổ khảo tiền kinh thí trúng nhất đằng thụ thập lý hầu kiêm trùm trưởng, suy cử
tiên chỉ, cao lý nhị tổng văn phổ nho trưởng, mà gửi cổ hy(?). Tăng quý công
mệnh danh nguyên hưởng(hanh), Tự: Hải châu, thụy đức kính, hiệu đông viên, giặt
...gia hội trà tiến sinh.
Cha
ta sinh năm thứ 32đời tự đức, năm kỷ mão, người chất hậu văn học sâu roongjmaf
trời không cùng gặp, giao thiệp rộng, cuộc đời vui thú điền viên, sách vở, danh
lợi không mê, thiếu thời vui với thi lễ văn tứ công phu khê kể hết. Đến năm đầu
chế độ dân chủ năm ất dậu ngày
mồng.....tháng 12.....
Hiển
tỷ: Trước lấy Tăng nguyên Hạnh(...) quý công chú thất suy thăng mẹ chiến sĩ,
năm thượng thọ Phan Thị Hành Nhị, Húy: Do(?) bình, Hiệu trinh từ nhụ nhân.
Sinh
ngày mồng 2 tháng 3 năm mậu ngọ.........
(Trang
30 chữ Hán) Lại
Tăng Bình
|
Tăng Lổi
|
Tăng Yến
|
Tăng Duy Bát
|
Tăng Bá giám
|
|
Tăng Khắc nhượng
|
Tăng khắc Nhân
|
Tăng Khắc Khoan
|
Tăng khắc tuấn
|
Tăng khắc Tiến
|
Tăng Quảng
|
Tăng cấp
|
||
Tăng phúc
|
||
Tăng miêu
|
Tăng phì
|
Tăng sàm Tăng Tu
|
Tăng Thoan
|
|||
Tăng Tăng
Nghiêm Kiều
|
Tăng Quyển
|
Tăng trạc
Tăng vệ
Tăng úy
Tăng chiểu
Tăng sính
Tăng khan
Tăng phụ
|
Tăng bạt
Tăng soạn
|
|
Tăng đăng
Tăng Kính
Tăng Hoán
Tăng Tiều
|
Tăng Đoạn
Tăng Đoàn
Tăng Chim
|
Tăng Lao
Tăng chỉnh
Tăng Hiền
Tăng hinh
Tăng Hoành
Tăng hiến
Tăng Miên
Tăng Lam
Tăng ất
|
T Đực Tích,
Tăng Hiếu, Uy
|
Tăng quảng
Tăng Lương
|
Tăng Giảm
Tăng Ngoạn
Tăng Dương
Tăng Quyên
|
Tăng doãn
Tăng Dân
Tg Nhuận, Vận,
Tắn(?)
Tăng Hg, ngạn
Tăng Đảm, Thuồng
Tăng Thục, Tiến
Tăng Linh, Thuận
Tăng Diễn, Luyện
Tăng Hộ, Bảo
Tăng Hiếu, Đảng
Tăng Đàm,
Tăng Kiều
Tăng Thắng,
Duyệt
|
Tăng Tăng
moi Ba
|
||
Tăng Đại(?)
|
Tăng Bính
Tăng Tương
Tăng Du
Tăng An
|
Tăng Thu
Tăng Thuận
Tăng Trị
Tăng Tịnh
Tăng....
Tăng Cỗu
Tăng Duyên
Tăng Văn
Tăng Táo
Tăng Quảng
Tăng thi
Tăng châu
Tăng tuyên
Tăng chuyên
|
Tăng Dậu
Tăng Miêu
|
|
Tăng Đạng
|
Tăng Tính
Tăng Tĩnh,
Tăng Câu
Tăng Hằng
Tăng Da
|
Tăng công tộc
trưởng
Tăng Lạp
Tăng Kiện
Tăng Khướng
Tăng bân
Tăng trí
Tăng nhu
|
Tăng Ngự
|
|
Phần Chi Tổ( Trang
2 Chữ Hán)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét